
Theo Nghị quyết, mức chuẩn trợ giúp xã hội và mức trợ cấp hưu trí xã hội được quy định thống nhất là 530.000 đồng/người/tháng. Đây là căn cứ quan trọng để xác định mức trợ cấp hằng tháng cho các đối tượng bảo trợ xã hội, người hưởng trợ cấp hưu trí xã hội cũng như các chính sách hỗ trợ khác.
Đối với các đối tượng bảo trợ xã hội được chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội hoặc nhà xã hội, mức trợ cấp nuôi dưỡng hằng tháng được tính bằng 6,5 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội. Khi các đối tượng này qua đời, chi phí mai táng được hỗ trợ theo chi phí thực tế nhưng không thấp hơn 50 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội, nhằm bảo đảm việc lo hậu sự được chu đáo, phù hợp với điều kiện thực tế.
Nghị quyết cũng mở rộng nhóm đối tượng khó khăn được hưởng chính sách trợ giúp xã hội, bao gồm: trẻ em dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng trong nhiều trường hợp đặc biệt; người đủ 16 tuổi đến dưới 22 tuổi thuộc diện khó khăn nhưng vẫn đang học văn hóa, học nghề, cao đẳng hoặc đại học; người khuyết tật thần kinh, tâm thần đặc biệt nặng cần được quản lý, chăm sóc tập trung; trẻ em dưới 3 tuổi thuộc hộ nghèo, cận nghèo chưa được hưởng trợ cấp xã hội theo quy định hiện hành.
Các đối tượng này được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng theo hệ số, tính trên mức chuẩn 530.000 đồng. Trong đó, trẻ em dưới 4 tuổi thuộc diện không có nguồn nuôi dưỡng được hưởng mức cao hơn; các nhóm đối tượng khác được hưởng mức phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể, bảo đảm công bằng và đúng đối tượng.
Bên cạnh trợ cấp hằng tháng, Nghị quyết còn quy định mức hỗ trợ về nhà ở cho các hộ khó khăn. Cụ thể, hỗ trợ làm mới nhà ở với mức 60 triệu đồng/hộ; hỗ trợ di dời nhà ở 45 triệu đồng/hộ; hỗ trợ sửa chữa nhà ở 30 triệu đồng/hộ, góp phần giúp người dân ổn định nơi ở, yên tâm sinh sống.
Đối với công tác tổ chức chi trả, mức chi phí chi trả chính sách trợ giúp xã hội và trợ cấp hưu trí xã hội thông qua tổ chức dịch vụ được quy định bằng 1,05% trên tổng số tiền chi trả, bảo đảm hoạt động chi trả được thực hiện kịp thời, chính xác và thuận tiện cho người thụ hưởng.
Việc ban hành Nghị quyết số 34/2025/NQ-HĐND thể hiện sự quan tâm sâu sắc của tỉnh Tuyên Quang đối với công tác an sinh xã hội, đặc biệt là các đối tượng yếu thế, khó khăn. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các cấp, các ngành tổ chức triển khai đồng bộ, hiệu quả các chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.